iMac G3
Nguyên bản iMac màu "xanh Bondi" | |
| Nhà sản xuất | Apple Computer |
|---|---|
| Dòng sản phẩm | iMac |
| Loại | Tất cả trong một |
| Ngày phát hành | 15 tháng 8 năm 1998 |
| Ngừng sản xuất | tháng 3 năm 2003 |
| Kế nhiệm | iMac G4 eMac |
| Liên quan | iBook |
| Website | web |
iMac G3 (ban đầu được phát hành dưới tên gọi iMac) là một dòng máy tính cá nhân Macintosh do Apple Computer kinh doanh từ năm 1998 đến năm 2003. iMac là đợt phát hành sản phẩm lớn đầu tiên của Apple dưới thời Tổng giám đốc điều hành (CEO) Steve Jobs sau khi ông quay trở lại công ty đang gặp khó khăn về tài chính do chính mình đồng sáng lập. Jobs đã tái cơ cấu công ty và đơn giản hóa dòng sản phẩm. Hãng đã thiết kế iMac thành sản phẩm máy tính để bàn mới dành cho người tiêu dùng của Apple—một chiếc máy tính giá rẻ, hướng đến người tiêu dùng với khả năng kết nối Internet một cách dễ dàng.
Thiết kế tất cả trong một của iMac xoay quanh một màn hình ống tia âm cực; bộ xử lý G3, các linh kiện và hệ thống kết nối đều được tích hợp trong một lớp vỏ duy nhất. Trưởng bộ phận thiết kế của Apple là Jony Ive cùng nhóm của ông đã phát triển một lớp vỏ nhựa trong mờ hình giọt nước. Thiết kế này đánh dấu một sự lột xác hoàn toàn so với diện mạo của các dòng máy tính trước đây của công ty. Công ty đã phát triển các phương pháp làm việc mới nhằm nhanh chóng hoàn thiện chiếc máy tính đồng thời tạo ra những quy trình làm việc mới để thiết kế các sản phẩm trong tương lai. iMac đã loại bỏ các công nghệ cũ như cổng nối tiếp và ổ đĩa mềm để chuyển sang sử dụng CD-ROM cùng cổng USB.
Phản ứng của giới phê bình đối với iMac khá trái chiều, các nhà báo nhận định cỗ máy này sẽ phù hợp với những người mới sử dụng máy tính nhưng lại than phiền về việc thiếu vắng công nghệ cũ đồng thời cho rằng con chuột và bàn phím rời mang lại cảm giác không thoải mái. Bất chấp những đánh giá đó, iMac ngay lập tức gặt hái thành công về mặt thương mại và trở thành mẫu máy tính bán chạy nhất của Apple. Hãng đã bán ra hơn sáu triệu máy trong suốt vòng đời của sản phẩm.
Apple đã nhiều lần nâng cấp mẫu máy ban đầu để cải thiện tốc độ bộ xử lý, dung lượng bộ nhớ truy cập ngẫu nhiên, không gian ổ đĩa cứng cùng nhiều khả năng khác. Giới chuyên môn đánh giá iMac đã cứu Apple khỏi nguy cơ phá sản tài chính đồng thời biến máy tính cá nhân từ những sản phẩm kỹ thuật dành cho thị trường ngách trở thành mặt hàng thời trang phục vụ người tiêu dùng đại chúng. Nhiều dòng máy tính và sản phẩm tiêu dùng khác đã sao chép vẻ ngoài bằng nhựa trong mờ này, dẫn đến những vụ kiện pháp lý từ phía Apple. Dòng máy iMac G4 đã ra mắt để kế nhiệm loạt iMac G3 trong khi eMac thay thế vị trí của iMac G3 trên thị trường giáo dục.
Bối cảnh
[sửa | sửa mã nguồn]Vào cuối thập niên 1990, Apple Computer đang trải qua những khó khăn nghiêm trọng về mặt tài chính. Tính đến cuối năm 1997, công ty chỉ bán được 1,8 triệu máy Mac mỗi năm (giảm mạnh so với con số 4,5 triệu máy của hai năm trước đó). Doanh số của Apple bị sụt giảm nghiêm trọng do các hệ thống Mac được cấp phép có giá bán rẻ hơn và hiệu năng vượt trội hơn hẳn so với chính các sản phẩm của hãng.[1] Apple hoàn toàn bất lực trong việc cạnh tranh trên thị trường máy tính giá rẻ và quyết định từ bỏ hoàn toàn phân khúc này.[2]
Vào tháng 12 năm 1996, Apple đã mua lại công ty máy tính NeXT do Steve Jobs thành lập. Như một phần của thỏa thuận, ông đã quay trở lại Apple, công ty mà ông từng đồng sáng lập vào năm 1976 và sau đó bị phế truất vào năm 1985.[3][4] Apple cũng giành được quyền sở hữu hệ điều hành NeXTSTEP của NeXT, thứ sau này trở thành nền tảng cho hệ điều hành thế hệ tiếp theo của Apple là Mac OS X.[5] Jobs trở lại Apple với tư cách là cố vấn nhưng ban giám đốc công ty đã sa thải vị Tổng giám đốc điều hành Gil Amelio vào ngày 9 tháng 7 năm 1997. Ngay sau đó, Jobs đã thay thế ông đảm nhận vị trí này với tư cách là người điều hành tạm thời.[6][7]
Vào cùng khoảng thời gian đó, giám đốc thiết kế công nghiệp của Apple là Robert Brunner đã rời công ty. Nhà thiết kế cấp dưới Jony Ive đã kế nhiệm ông và tiếp quản đội ngũ thiết kế từng đoạt nhiều giải thưởng danh giá.[8] Ive cảm thấy chán nản với ban lãnh đạo của Apple và cũng từng cân nhắc việc rời đi.[9] Tại cuộc họp công bố quyết định bổ nhiệm Jobs làm Tổng giám đốc điều hành của Apple, Jobs đã chia sẻ với nhân viên rằng những vấn đề của Apple đều bắt nguồn từ các sản phẩm yếu kém. Ive nhận thấy Jobs đang tập trung vào việc đưa thiết kế công nghiệp trở thành phần cốt lõi trong chiến lược lội ngược dòng của Apple.[10] Ive và Jobs nhanh chóng xây dựng một mối quan hệ gắn bó, đồng thời Jobs quyết định giữ lại đội ngũ thiết kế công nghiệp của Apple dưới sự dẫn dắt của Ive.[11]
Jobs đã tinh gọn công ty để mang lại lợi nhuận thông qua việc cắt giảm chi phí nhưng công ty vẫn cần những sản phẩm đủ sức hấp dẫn để thúc đẩy doanh số bán hàng.[12] Ông lên kế hoạch thu gọn các dòng máy tính mở rộng và rắc rối của Apple xuống chỉ còn bốn sản phẩm bao gồm một mẫu máy tính xách tay và một mẫu máy tính để bàn dành riêng cho đối tượng chuyên gia lẫn người tiêu dùng phổ thông.[13] Chiếc máy tính để bàn hướng đến người tiêu dùng theo kế hoạch này về sau đã trở thành iMac.[14]
Thiết kế
[sửa | sửa mã nguồn]Ban đầu, Jobs mong muốn chiếc máy tính để bàn tiêu dùng mới sẽ là một máy tính mạng (một thiết bị đầu cuối giá rẻ, công suất thấp, không có ổ đĩa và có khả năng kết nối với các máy chủ Internet). Đội ngũ thiết kế của Ive đã nhận được thông số kỹ thuật của Jobs cho sản phẩm mới vào tháng 9 năm 1997. Theo đó, nó phải là một chiếc máy tính tất cả trong một khác biệt với mức giá khoảng 1.200 USD (thấp hơn nhiều so với mức 2.000 đô la Mỹ (3.900 đô la Mỹ vào năm 2022) của các mẫu máy tính cấp thấp đương thời).[15] Các đội ngũ kỹ thuật và thiết kế có chưa đầy một năm để trình làng một sản phẩm hoàn thiện.[16]
Đội ngũ thiết kế đã cố gắng xác định xem những đồ vật nào có thể truyền tải những cảm xúc mà họ muốn chiếc máy tính gợi lên. Trong quá trình hợp tác phác thảo, nhà thiết kế Doug Satzger đã vẽ ra một hình dạng trứng dựa trên dự án trước đây của ông về dòng máy thu hình Thomson. Ive và các thành viên còn lại trong nhóm đều tập trung vào thiết kế hình trứng này mặc dù Jobs ban đầu đã từ chối vẻ ngoài đó. Ive kiên quyết bảo vệ thiết kế này vì cho rằng nó mang lại cảm giác vui nhộn và tinh nghịch, đồng thời ông cũng thuyết phục thành công Jobs chấp nhận ý tưởng này. Jobs bắt đầu mang theo một mô hình máy tính bằng bọt xốp đi quanh khuôn viên Apple để khoe với mọi người.[17]
Khi thảo luận về ý tưởng cho một cỗ máy truyền cảm hứng về những cảm xúc tích cực, các nhà thiết kế đã đề cập đến những chiếc hộp kẹo đầy màu sắc.[18] Do các cuộc thử nghiệm vật liệu với nhựa đặc trông khá rẻ tiền nên họ quyết định làm cho lớp vỏ trở nên trong mờ.[19] Thiết kế phần cứng trong mờ không phải là một điều hoàn toàn mới mẻ đối với các sản phẩm của Apple. Các máy tính dạng tháp Power Macintosh 8600, 9600 và Power Macintosh G3 đều có móc chốt màu xanh lục trong mờ. Trong khi đó, các sản phẩm như LaserWriter 8500, eMate 300 và Studio Display lại tích hợp nhựa màu trong mờ một cách rộng rãi hơn. Cựu nhà thiết kế cấp cao của Apple là Thomas Meyerhoffer đã mô tả lớp nhựa của eMate là một cách để làm cho sản phẩm trở nên dễ tiếp cận và khác biệt.[20] Đối với Ive, độ trong mờ "mang lại cảm giác táo bạo" nhưng đồng thời cũng đòi hỏi họ phải cân nhắc kỹ lưỡng đến thiết kế thẩm mỹ của các linh kiện bên trong. Nguồn cảm hứng bắt nguồn từ những vật dụng trong mờ mà các nhà thiết kế mang đến văn phòng (trong đó có một mảnh thủy tinh bãi biển màu xanh lam ánh lục). Vật thể màu "xanh Bondi" này đã truyền cảm hứng để Jobs lựa chọn màu sắc cho chiếc iMac đầu tiên.[21]
Đội ngũ thiết kế của Apple đã cải tổ triệt để các quy trình của mình nhằm đáp ứng được thời hạn eo hẹp. Trước đây, họ thường gửi các bản thiết kế hai chiều hoặc bản phác thảo vẽ tay cho các nhà chế tạo công cụ để tạo ra khuôn đúc (một quá trình tốn nhiều công sức và có thể mất đến hàng tháng trời). Lần này, Apple đã tận dụng công nghệ thiết kế hỗ trợ bởi máy tính (CAD) qua việc sử dụng chương trình tạo mô hình ba chiều (3D) Alias Wavefront để điêu khắc các thiết kế. Bên cạnh đó, họ cũng áp dụng máy phay CNC cùng các loại máy in 3D thô sơ nhằm tạo ra các mô hình vật lý. Những nhà thiết kế sản phẩm của Apple đã viết ra một phần mềm cho phép nhập các mô hình 3D Wavefront vào Unigraphics (một chương trình chuyên dùng trong thiết kế hàng không vũ trụ). Quá trình này giúp các kỹ sư dễ dàng đối chiếu các mô hình 3D của các linh kiện máy tính với lớp vỏ. Nhờ đó, họ có thể đẩy nhanh quá trình tìm kiếm một sự kết hợp khả thi giữa các thành phần bên ngoài và bên trong.[22]
Jobs đã cân nhắc lại khái niệm máy tính mạng khi các sản phẩm tương tự gặp khó khăn trên thị trường. Sau đó, ông đã hiệu chỉnh lại dự án thành một chiếc máy tính đầy đủ tính năng có khả năng lưu trữ bằng ổ đĩa quang và ổ đĩa cứng.[23][24] Các linh kiện của chiếc iMac hoàn thiện cùng màn hình ống tia âm cực (CRT) 15 inch (38 cm) đều được bao bọc bên trong một lớp vỏ nhựa. Hiệu ứng trong mờ đạt được bằng cách trộn các hạt tán xạ ánh sáng vào nhựa thay vì tạo kết cấu nhám trên bề mặt như cách người ta thường làm với các bộ phận đúc bằng máy ép nhựa.[25] Toàn bộ cỗ máy tính đều mang đặc tính trong mờ này. Ví dụ điển hình là phần chân đế nhỏ giúp nâng cao máy tính cùng dải dây nguồn trông giống như sự ngưng tụ hơi nước trên kính.[26] Các nhãn dán cổng kết nối và dấu hiệu pháp lý đều sử dụng nhãn dán ba chiều.[27] Nhóm thiết kế đã bố trí thêm một tay cầm dạng lõm ở mặt sau của máy tính để làm cho thiết bị trở nên cá nhân hóa và dễ tiếp cận hơn đối với những người mới sử dụng.[26] Chi phí sản xuất lớp vỏ này cao gấp ba lần so với một chiếc máy tính thông thường.[28] Dù vậy, Ive vẫn ghi nhận công lao của Jobs trong việc thấu hiểu trực giác các mục tiêu thiết kế và không hề đòi hỏi phải biện minh cho những chi phí gia tăng này.[26] Apple cũng thiết kế lại bàn phím cùng chuột với lớp nhựa trong mờ và đường viền đồng bộ với iMac. Ive đặc biệt tự hào về con chuột hình quả khúc côn cầu tròn trịa. Qua đó, người dùng có thể chiêm ngưỡng các linh kiện bên trong phức tạp bị ẩn đi một phần đằng sau logo Apple.[29]
Jobs muốn chiếc máy tính mới này phải là một mẫu PC không trang bị công nghệ kế thừa hiện đại và không sử dụng các công nghệ cũ hay độc quyền.[30] Đội ngũ kỹ sư đã điều chỉnh thông số kỹ thuật Common Hardware Reference Platform (CHRP) nhằm đẩy nhanh quá trình phát triển. Điều này bao gồm việc tích hợp RAM SO-DIMM tiêu chuẩn của các PC nền tảng Microsoft Windows cùng bộ nhớ chỉ đọc (ROM) Open Firmware. Mặc dù các dòng máy tính trước đây thường lưu trữ phần lớn các thành phần hệ điều hành dành riêng cho máy trong ROM để giảm thiểu việc sử dụng RAM, iMac với cấu trúc CHRP lại nạp chúng trực tiếp vào RAM từ bộ nhớ lưu trữ. Bước đi này giúp rút ngắn đáng kể thời gian sản xuất.[31] iMac không tích hợp cổng nối tiếp, Apple Desktop Bus hay ổ đĩa mềm. Để thay thế cho các cổng kết nối bị lược bỏ, iMac được trang bị các cổng USB (Universal Serial Bus). Dù sở hữu tốc độ nhanh hơn và giá thành rẻ hơn so với Apple Desktop Bus cùng cổng nối tiếp, chuẩn kết nối này vẫn còn rất mới mẻ (tiêu chuẩn này vẫn chưa được hoàn thiện cho đến tận sau khi iMac phát hành) và cũng không được bất kỳ thiết bị ngoại vi nào của bên thứ ba dành cho Mac hỗ trợ.[30][32] Jobs đã đặt cược rằng USB sẽ giải quyết dứt điểm tình trạng các nhà sản xuất phụ kiện rời bỏ thị trường Mac vốn đang ngày càng thu hẹp với các đầu nối đặc biệt của nó.[33] Dù iMac không chính thức sở hữu khe cắm mở rộng, các phiên bản đời đầu vẫn tích hợp một khe cắm PCI Mezzanine Card chủ yếu dành cho mục đích sử dụng nội bộ. Bất chấp điều đó, một số ít bên thứ ba đã lợi dụng điều này để sản xuất các thẻ mở rộng như bộ nâng cấp card video và cổng SCSI.[34] Những mẫu máy đời đầu có cổng hồng ngoại IrDA cho phép kết nối không dây với các thiết bị kỹ thuật số hỗ trợ cá nhân và nhiều thiết bị khác.[32] Việc mẫu iMac ban đầu xuất xưởng kèm một ổ đĩa CD-ROM dạng khay nạp thay vì ổ đĩa dạng nuốt đĩa hiện đại hơn đã khiến Jobs vô cùng tức giận. Ông thậm chí đã suýt chút nữa hủy bỏ sự kiện ra mắt sản phẩm vì vấn đề này. Tuy nhiên, Jobs đã quyết định tiếp tục buổi lễ ra mắt sau khi nhận được sự bảo đảm rằng các mẫu máy tính tiếp theo sẽ tích hợp ổ đĩa CD-ROM dạng nuốt đĩa càng sớm càng tốt.[35]
Vào đầu năm 1998, các đại diện từ công ty quảng cáo TBWA\Chiat\Day đã được xem qua chiếc máy tính mới mang tên mã "C1". Giám đốc sáng tạo Ken Segall cho biết ấn tượng đầu tiên của công ty là sản phẩm này có thể quá mức gây sốc để gặt hái thành công.[36] Jobs vô cùng tự hào khi phô diễn thành quả của Apple. Ông tuyên bố rằng "mặt sau chiếc máy tính của chúng tôi trông còn đẹp hơn mặt trước máy tính của đối thủ cạnh tranh". Jobs tiết lộ với Segall rằng tên gọi nội bộ của sản phẩm là "MacMan" (do giám đốc tiếp thị của Apple là Phil Schiller đóng góp) và yêu cầu thực hiện một cuộc nghiên cứu để tìm ra một cái tên tốt hơn. Apple quy định tên gọi phải chứa từ "Mac", nó phải gợi lên khả năng kết nối Internet dễ dàng và tuyệt đối không được mang cảm giác như một món đồ chơi hay thiết bị di động.[37] TBWA đã dành một tuần để phát triển những cái tên khác. Sự lựa chọn của Segall là "iMac" vì nó ngắn gọn, khẳng định đây là một máy tính Macintosh và tiền tố i gợi liên tưởng đến internet.[38] Mặc dù Jobs không hài lòng với bất kỳ cái tên nào được đề xuất và cho công ty thêm một tuần nữa để tạo ra nhiều khả năng hơn, Segall vẫn tiếp tục chốt lại bằng "iMac" trong buổi thuyết trình tiếp theo. Phản hồi lại điều đó, Jobs cho biết ông không còn ghét cái tên này nữa nhưng vẫn thích "MacMan" hơn. Dù Segall đinh ninh rằng mình đã thất bại, ông chợt nhận ra vào ngày hôm sau rằng Jobs đã đề xuất cái tên này với các nhân viên khác và nhận được phản hồi vô cùng tích cực. Nhờ đó, Apple chính thức đặt tên cho sản phẩm là iMac.[39]
Phát hành
[sửa | sửa mã nguồn]
Steve Jobs đã trình làng iMac vào ngày 6 tháng 5 năm 1998. Sự kiện ra mắt sản phẩm này gợi nhớ đến màn chào sân của chiếc Macintosh 128K nguyên bản vào năm 1984. Apple đã tổ chức sự kiện tại cùng một địa điểm là Trung tâm Nghệ thuật Biểu diễn Flint thuộc Đại học De Anza. Jobs đã mời các thành viên sáng lập Apple bao gồm Steve Wozniak, Mike Markkula và Michael Scott cùng những thành viên của nhóm phát triển Macintosh ban đầu. Sau khi trình diễn vẻ ngoài của các máy tính truyền thống, Jobs đã vén tấm khăn trải bàn để hé lộ chiếc iMac. Cỗ máy hiển thị dòng chữ "Hello (again)" trên màn hình nhằm gợi nhớ lại lời chào "Hello" đầy ngẫu hứng của Macintosh.[40]
Apple bắt đầu xuất xưởng iMac vào ngày 15 tháng 8 năm 1998.[41] Công ty đã hỗ trợ chiếc máy tính bằng một chiến dịch quảng cáo trị giá 100 triệu USD nhằm nhấn mạnh tính dễ sử dụng, khả năng kết nối internet và sự tương phản nổi bật của iMac so với các sản phẩm của đối thủ cạnh tranh. Nam diễn viên Jeff Goldblum đã lồng tiếng cho các đoạn phim quảng cáo trên truyền hình với câu hỏi tu từ rằng liệu các công ty máy tính có đang bị nhốt trong "nhà tù tư duy" khi chỉ sản xuất những sản phẩm màu be hay không.[42] Các chương trình khuyến mãi khác bao gồm quà tặng trên đài phát thanh, sự kiện ra mắt lúc nửa đêm cùng những "chiếc vé vàng" ẩn giấu trong một số máy iMac chọn lọc để người dùng có thể đổi lấy một chuyến tham quan nhà máy Apple.[43] Nhằm đảm bảo Apple có thể xuất xưởng số lượng máy Mac nhiều nhất có thể, giám đốc điều hành Tim Cook đã đặt trước 100 triệu USD cước vận chuyển hàng không. Apple đã đáp ứng thành công nhu cầu của khách hàng đồng thời gây ra sự chậm trễ trong quá trình vận chuyển cho các đối thủ cạnh tranh trong suốt mùa lễ hội.[44]
Các dòng máy
[sửa | sửa mã nguồn]Phiên bản đầu tiên của iMac G3 trang bị bộ xử lý PowerPC G3 233 MHz, đồ họa ATI Rage IIc, ổ đĩa cứng 4 GB, RAM 32 MB, ổ đĩa CD-ROM dạng khay nạp, hai cổng USB, kết nối mạng, cổng hồng ngoại, loa âm thanh nổi tích hợp cùng các cổng tai nghe. Lớp vỏ của máy có màu xanh Bondi và thiết bị xuất xưởng cùng hệ điều hành Mac OS 8.1. Vào ngày 17 tháng 10, hãng đã cập nhật iMac với các tùy chọn đồ họa ATI Rage Pro Turbo nhanh hơn cùng hệ điều hành Mac OS 8.5.[45] Một bản nâng cấp đáng kể hơn cho dòng sản phẩm iMac đã ra mắt vào tháng 1 năm 1999. Những mẫu máy mới này sở hữu năm màu sắc bao gồm xanh việt quất, hồng dâu tây, cam quýt, tím nho và xanh chanh. Chúng tích hợp bộ xử lý 266 MHz cùng ổ đĩa cứng 6 GB. Apple đã loại bỏ cổng hồng ngoại và khe cắm mezzanine khỏi thiết kế.[46]
Apple đã phát hành một loạt máy iMac mới vào ngày 5 tháng 10 năm 1999 với trọng tâm hướng đến thị trường video kỹ thuật số (DV) đang phát triển.[47] Các mẫu máy mới có vẻ ngoài tương tự những phiên bản trước nhưng sở hữu lớp vỏ nhỏ hơn đôi chút. Công ty đã loại bỏ phần khung thép bao bọc nhiều linh kiện trong mẫu máy cũ, làm cho màu sắc trở nên tươi sáng hơn cùng lớp nhựa trong suốt hơn. Họ thay thế ổ đĩa CD-ROM dạng khay nạp bằng ổ đĩa dạng nuốt đĩa và bố trí thêm một nắp ở mặt sau để người dùng dễ dàng nâng cấp RAM cùng một khe cắm thẻ mạng không dây AirPort. Các linh kiện của máy tính được tản nhiệt đối lưu không cần quạt thông qua lượng khí nóng thoát ra từ các lỗ thông hơi quanh tay cầm phía trên.[47] Hãng cung cấp ba mẫu máy mới với một số màu sắc cùng tính năng chỉ giới hạn ở một vài phiên bản nhất định. Mẫu máy rẻ nhất với giá 999 USD chỉ có duy nhất một màu. Nó xuất xưởng với bộ xử lý 350 MHz, RAM 64 MB, chipset đồ họa mới cùng ổ đĩa cứng lớn hơn. Phiên bản iMac DV có năm màu và được cài đặt sẵn phần mềm chỉnh sửa video iMovie. Thiết bị này cũng tích hợp bộ xử lý 400 MHz, hai cổng FireWire cho kết nối tốc độ cao, ổ đĩa cứng lớn hơn cùng ổ đĩa quang DVD-ROM. Phiên bản iMac DV Special Edition khoác lên mình màu xám than chì hoàn toàn mới và xuất xưởng với nhiều RAM hơn cùng ổ đĩa cứng 13 GB (dung lượng lớn nhất trong toàn bộ dòng sản phẩm). Các mẫu iMac DV cũng trang bị cổng xuất hình ảnh VGA để phản chiếu màn hình của iMac sang một màn hình khác.[48][49]
Vào ngày 19 tháng 7 năm 2000, Apple trình làng một dòng iMac mới với bốn cấu hình trong năm màu sắc. Mẫu tiêu chuẩn không có cổng FireWire hay ổ cắm xuất hình ảnh, đi kèm lớp vỏ màu xanh chàm và được bán lẻ với giá 799 USD. Nó sở hữu cùng bộ xử lý và bộ nhớ như chiếc iMac trước đó đi kèm một ổ đĩa cứng lớn hơn. Các mẫu iMac DV và DV+ lần lượt trang bị bộ xử lý 400 MHz cùng 450 MHz đi kèm ổ đĩa cứng lớn hơn. Bên cạnh đó, phiên bản DV+ còn có thêm ổ đĩa DVD-ROM. Mẫu máy đắt tiền nhất là iMac DV Special Edition với bộ xử lý 500 MHz, RAM 128 MB, ổ đĩa cứng lớn hơn cùng tông màu trắng tuyết độc quyền.[50]
Apple đã phát hành bản sửa đổi iMac tiếp theo vào ngày 22 tháng 2 năm 2001. Những cỗ máy mới tích hợp ổ đĩa CD-RW cùng phần mềm iTunes khi Apple bắt đầu chuyển hướng sang lĩnh vực tiêu thụ âm nhạc kỹ thuật số.[51] Các mẫu iMac và iMac Special Edition xuất xưởng với bộ xử lý từ 400 đến 600 MHz. Công ty đã đưa FireWire trở thành chuẩn kết nối mặc định song song với chipset đồ họa nhanh hơn và ổ đĩa cứng lớn hơn. Apple đã bổ sung thêm hai họa tiết mới là "Flower Power" và "Blue Dalmatian" (vốn được tạo ra để làm đại diện trực quan cho âm nhạc) vào các tùy chọn màu xanh chàm và màu xám than chì hiện có.[52]
Bản sửa đổi cuối cùng vào tháng 7 năm 2001 đã quay trở lại với những tông màu trầm lắng hơn bao gồm xanh chàm, xám than chì và trắng tuyết. Những mẫu máy này xuất xưởng cùng hệ điều hành Mac OS X, bộ xử lý 500, 600 hoặc 700 MHz, RAM lên đến 256 MB cùng ổ đĩa cứng 60 GB trên phiên bản Special Edition.[53] Nối tiếp màn ra mắt của iMac G4 vào tháng 1 năm 2002, Apple vẫn tiếp tục kinh doanh một số mẫu iMac dựa trên G3,[54] nổi bật là các phiên bản 500 cùng 600 MHz với màu xanh chàm, trắng tuyết và xám than chì. Hãng đã ngừng sản xuất các phiên bản màu xanh chàm và màu xám than chì trước, sau đó chính thức khai tử mẫu màu trắng tuyết vào tháng 3 năm 2003.[55]
Doanh số
[sửa | sửa mã nguồn]iMac G3 ngay lập tức gây tiếng vang lớn với người tiêu dùng[56] với 278.000 máy bán ra trong sáu tuần đầu tiên và 800.000 máy sau 20 tuần. Nó trở thành mẫu máy tính để bàn bán chạy nhất tại các cửa hàng ở Mỹ trong ba tháng đầu tiên ra mắt.[46] Gần một nửa doanh số bán iMac thuộc về những người mua máy tính lần đầu và gần 20% là những người dùng Microsoft Windows chuyển sang sử dụng Mac.[57] Trong quý mà iMac xuất xưởng, doanh số bán máy tính Macintosh đã tăng trưởng so với cùng kỳ năm trước lần đầu tiên kể từ cuối năm 1995 đồng thời chứng kiến thị phần toàn cầu của Mac tăng từ 3 lên 5%.[58] Apple đã đi từ khoản lỗ 878 triệu USD vào năm 1997 để đạt mức lợi nhuận 414 triệu USD vào năm 1998 (khoản lợi nhuận đầu tiên của hãng sau ba năm).[59] iMac tiếp tục là một sản phẩm bán chạy của Apple với 3,7 triệu máy được tiêu thụ tính đến tháng 7 năm 2000[60] và xuất xưởng chiếc iMac thứ năm triệu vào tháng 4 năm 2001.[61] Khi công bố phiên bản kế nhiệm của cỗ máy tính này vào tháng 1 năm 2002, Jobs cho biết iMac đã bán được 6 triệu máy.[62]
Đón nhận
[sửa | sửa mã nguồn]iMac G3 đã nhận được những đánh giá trái chiều khi ra mắt. Các nhà đánh giá công nghệ thường đưa ra nhận xét tiêu cực về cỗ máy này.[63][64] Hiawatha Bray cho rằng những lựa chọn của Jobs đối với iMac đã đẩy sản phẩm này vào chỗ chết.[64] Để so sánh, Andrew Gore của Macworld nhận định iMac G3 có thể đóng vai trò quan trọng ngang ngửa chiếc Macintosh nguyên bản trong việc thay đổi mô hình điện toán và chiến dịch tiếp thị "Think different" của Apple không chỉ là lời nói suông.[65] Các phóng viên bao gồm Barbara Kantrowitz của Newsweek cùng David Einstein của San Francisco Chronicle coi đây là bước đi đầy hứa hẹn đầu tiên trong khả năng phục hưng của Apple.[66][67][68]
Giới chuyên môn nhìn chung đã ca ngợi diện mạo của iMac.[69] Nhiều nhà phê bình đã so sánh vẻ ngoài cong tròn của nó với chiếc xe hơi Volkswagen New Beetle vừa ra mắt vào thời điểm đó.[67][70] Nhà báo Rob Morse ví nó như một cỗ máy "đáng ôm" mang hơi hướng tương lai giống như R2-D2 hoặc một món đồ chơi từ The Jetsons.[71] Các bài đánh giá kém tích cực hơn lại so sánh iMac với một chiếc xe AMC Gremlin.[68]
Các bài đánh giá tích cực đã nhấn mạnh tính dễ sử dụng của máy tính trong việc thiết lập và vận hành.[66][72][73] Theo Morse, iMac mang lại cảm giác "gần như con người" và dễ tiếp cận đối với một người tiêu dùng không am hiểu công nghệ.[71] Các ấn phẩm bao gồm CNN và PC Week đánh giá hiệu suất của iMac rất nhanh nhẹn.[74] Tuy nhiên, những người khác lại cảm thấy cỗ máy này có hiệu năng kém. Các bài thử nghiệm của PC World cho thấy cỗ máy này nhìn chung hoạt động kém hiệu quả hơn so với các đối thủ cạnh tranh PC chạy Windows.[75] Mặc dù các nhà phê bình ghi nhận rằng cỗ máy này sẽ phục vụ tốt cho người tiêu dùng phổ thông và những người mua máy tính lần đầu,[76] họ lại không chắc chắn lắm về khả năng nó có thể phù hợp với môi trường văn phòng (đặc biệt nếu nó không được kết nối mạng).[77]
Những lời chỉ trích thường tập trung vào việc iMac thiếu vắng các cổng kết nối cũ.[63] Bray đã viết rằng việc thiếu ổ đĩa mềm về cơ bản đã gạt bỏ hầu hết những người mua tiềm năng để ủng hộ "những nhân vật 'tinh hoa' (những người sẽ) trả nhiều tiền hơn để nhận lại ít hơn".[78] Gore đánh giá việc loại bỏ ổ đĩa mềm là có thể chấp nhận được nhưng ông lại ước gì mô-đun CD-ROM (vốn giống hệt mô-đun của dòng máy tính xách tay PowerBook) có thể thay thế được. Ông cho biết việc thiếu các khe cắm mở rộng đã làm hạn chế tiềm năng trong tương lai của máy tính.[79] John Breeden của The Washington Post nhấn mạnh việc thiếu cổng SCSI khiến iMac không phù hợp với công việc văn phòng.[80] Các bài đánh giá khác lại than vãn về chi phí đắt đỏ của các thiết bị thay thế bên ngoài cho ổ đĩa mềm bên trong, dung lượng bộ nhớ được lắp đặt thấp và dàn loa có âm thanh hơi chói.[81][69][80]
Một điểm đáng phàn nàn lớn khác đối với iMac là hệ thống chuột và bàn phím gốc. Các nhà phê bình nhận xét chúng có kích thước quá nhỏ và khó sử dụng một cách thoải mái.[82] Họ gọi chúng là một ví dụ điển hình của việc đề cao phong cách thiết kế hơn chất lượng thực tế.[73] Giới chuyên môn đã chế nhạo hình dáng của con chuột khi so sánh nó với một quả khúc côn cầu trên băng và đánh giá cáp kết nối của thiết bị này quá ngắn.[83] Hình dáng tròn của con chuột cũng gây khó khăn cho người dùng trong việc phân biệt hướng chính xác của nó.[29] Apple đã thay thế các linh kiện này bằng chuột Apple Pro Mouse và bàn phím Apple Pro Keyboard cho những chiếc iMac bản sửa đổi năm 2000.[84] Những phàn nàn khác bao gồm việc thiếu hụt phần mềm và phụ kiện USB, khả năng không tương thích với Microsoft Windows cùng mức giá đắt đỏ.[56] Các mẫu iMac G3 đời sau đã khắc phục một số thiếu sót được ghi nhận của sản phẩm.[63][85] Khi dòng sản phẩm này trở nên già cỗi, các bài đánh giá lưu ý rằng những mẫu mới mang lại rất ít cải tiến so với các phiên bản trước đó.[53]
iMac đã giành chiến thắng tại một số cuộc thi và giải thưởng thiết kế (bao gồm Giải Vàng tại D&AD Design Awards năm 1999 ở Vương quốc Anh cùng danh hiệu "Vật thể của năm" do tạp chí The Face bình chọn).[86] Các bảo tàng như The Henry Ford, Bảo tàng Victoria và Albert, Powerhouse Museum cùng Bảo tàng Nghệ thuật Hiện đại hiện đang lưu giữ những mẫu máy iMac G3 trong bộ sưu tập của họ.[87]
Di sản
[sửa | sửa mã nguồn]iMac G3 đã trở thành một biểu tượng điện toán. Paul Atkinson viết rằng chiếc Macintosh nguyên bản đã tạo ra tác động to lớn đến ngành điện toán nhưng nó lại không hề ảnh hưởng đến diện mạo của máy tính. Trong nhiều thập kỷ, những chiếc hộp màu be thiếu tính sáng tạo đã định hình máy tính cá nhân. Ngược lại, iMac không làm thay đổi cách người tiêu dùng sử dụng máy tính nhưng thiết kế của nó đã làm thay đổi quan niệm về vẻ ngoài của máy tính. Apple đã tự định vị bản thân ở thế đối lập với các đối thủ cạnh tranh. Những công ty này đã đổ xô sản xuất máy tính tuân theo ngôn ngữ thiết kế của iMac qua việc bổ sung thêm lớp nhựa trong mờ hoặc có màu sắc tương tự vào thiết kế của họ.[88][89] iMac phản ánh các xu hướng thiết kế đương thời thông qua việc sử dụng sự tinh gọn và các đường cong. Một nhà thiết kế nhận định việc tập trung vào những đường nét bo tròn đã góp phần làm cho các đồ vật trở nên dễ tiếp cận và cá nhân hóa hơn.[90]
Apple đã bảo vệ thiết kế iMac đặc trưng bằng các hành động pháp lý nhằm chống lại những nhà sản xuất máy tính cạnh tranh cố tình bắt chước iMac (chẳng hạn như cỗ máy eOne của hãng eMachines).[91] iMac đã biến máy tính trở thành một mặt hàng thời trang thay vì chỉ mang tính thực dụng.[92] Tác phẩm cũng góp phần phổ biến chuẩn kết nối USB và đẩy nhanh sự suy tàn của ổ đĩa mềm.[41] Noi gương Apple, các nhà sản xuất máy tính khác cũng bắt đầu tập trung vào những chiếc máy tính cá nhân "không dùng công nghệ cũ".[93][94]
Doanh số bán iMac đã giúp vực dậy Apple trong khi hãng phát hành một hệ điều hành hiện đại và làm mới phần còn lại của dòng máy Mac. Thành công của chiếc máy tính này đã tạo tiền đề để công ty tập trung vào các xu hướng phương tiện kỹ thuật số đang nổi lên.[5] Nó cũng thiết lập một công thức nhằm nhanh chóng hoàn thiện một sản phẩm Apple mới thông qua các bản cập nhật lặp lại liên tục.[95] Tạp chí Macworld viết rằng iMac đã cứu Apple về mặt tài chính và chứng minh Apple vẫn có khả năng sản xuất những sản phẩm thú vị đầy tính sáng tạo.[41] iMac cũng đóng vai trò là lời giới thiệu của công chúng với Jony Ive, đưa ông trở thành một trong những nhà thiết kế nổi tiếng nhất thế giới.[89][92] Tên gọi của sản phẩm đã ảnh hưởng đến rất nhiều sản phẩm sau này của Apple (chẳng hạn như iPod, iLife và iPhone)[41] và trong một khoảng thời gian dài đã định hình các dòng sản phẩm tập trung vào người tiêu dùng của hãng.[96] Mẫu máy tính xách tay tiêu dùng iBook của Apple đã tiếp bước iMac trong việc loại bỏ công nghệ cũ và sử dụng lớp nhựa trong mờ đầy màu sắc.[97] iMac đã gặt hái thành công vang dội tại các trường học đến mức Apple phải tạo ra một phiên bản kế nhiệm chạy chip G4 mang tên eMac, thứ vốn ban đầu chỉ bán độc quyền cho thị trường giáo dục.[5][98]
Tầm ảnh hưởng thiết kế của iMac G3 không chỉ giới hạn ở máy tính cá nhân. Tính đến đầu thập niên 2000, các thiết kế bằng nhựa trong mờ nhiều màu sắc đã trở nên phổ biến trong các sản phẩm tiêu dùng, bao gồm cả lò vi sóng và vỉ nướng George Foreman. Tờ USA Today gọi xu hướng trong mờ này là "chủ nghĩa mãn nhãn thiết bị điện tử".[92] Apple đã nối tiếp chiếc iMac G3 hình bầu phình to màu kẹo ngọt bằng cỗ máy iMac G4 màn hình phẳng màu trắng "Hướng dương" vào năm 2002.[41] Đội hình máy tính để bàn của Apple vẫn giữ nguyên tông màu đơn sắc trong những năm tiếp theo. Việc ra mắt các mẫu iMac dựa trên Apple SoC vào năm 2021 với bảy màu sắc được coi là sự gợi nhắc về cội nguồn đầy màu sắc của dòng iMac.[99][100][101]
Thông số kỹ thuật
[sửa | sửa mã nguồn]| Mẫu | iMac (233 MHz)[102] | iMac (266 MHz)[103] | iMac (333 MHz)[104] | |
|---|---|---|---|---|
| Màu sắc | ||||
| Ngày phát hành | 15 tháng 8 năm 1998 | 26 tháng 10 năm 1998 | 5 tháng 1 năm 1999 | 15 tháng 4 năm 1999 |
| Màu sắc | Xanh Bondi | Xanh việt quất Tím nho Cam quýt Xanh chanh Hồng dâu tây | ||
| Bộ xử lý | G3 233 MHz | G3 266 MHz | G3 333 MHz | |
| Bộ nhớ đệm | Bộ nhớ đệm L1 32 KB và bộ nhớ đệm phía sau L2 512 KB | |||
| Bộ nhớ | Hai khe cắm SO-DIMM: PC100 SDRAM 32 đến 256 MB | |||
| Đồ họa | ATI Rage IIc với SGRAM 2 MB[46] | ATI Rage Pro Turbo với SGRAM 6 MB[46][105] | ||
| Ổ đĩa cứng | 4 GB | 6 GB | ||
| Ổ đĩa quang Khay nạp |
CD-ROM 24× | |||
| Mạng | Ethernet 10/100 BASE-T Modem 56k | |||
| 4 Mbit/s IrDA | — | |||
| Thiết bị ngoại vi | 2 cổng USB Giắc cắm đầu vào/đầu ra âm thanh Loa âm thanh nổi tích hợp | |||
| Hệ điều hành gốc | Mac OS 8.1 (bản phát hành ban đầu) hoặc Mac OS 8.5 | Mac OS 8.5.1 | ||
| Hệ điều hành tối đa | Mac OS X 10.3 Panther nếu lắp đặt RAM 128 MB, nếu không thì Mac OS 9[106] | |||
| Trọng lượng | 40 lb (17,25 kg) | |||
| Kích thước | 15,8 × 15,2 × 17,6 inch (40,1 × 38,6 × 44,7 cm) | |||
| Mẫu | iMac (nuốt đĩa)[107] | iMac (Mùa hè năm 2000)[108] | iMac (đầu năm 2001)[109] | iMac (Mùa hè năm 2001)[110] |
|---|---|---|---|---|
| Hình ảnh | ||||
| Ngày phát hành | 5 tháng 10 năm 1999 | 19 tháng 7 năm 2000 | 22 tháng 2 năm 2001 | 18 tháng 7 năm 2001 |
| Màu sắc | Xanh việt quất Tím nho Cam quýt Xanh chanh Hồng dâu tây Xám than chì | Xanh chàm Đỏ ruby Xanh xô thơm Xám than chì Trắng tuyết | Xanh chàm Xám than chì Blue Dalmatian ✿ Flower Power | Xanh chàm Xám than chì Trắng tuyết |
| Tốc độ bộ xử lý |
G3 350 hoặc 400 MHz |
G3 350, 400, 450 hoặc 500 MHz |
G3 400, 500 hoặc 600 MHz |
G3 500, 600 hoặc 700 MHz |
| Bộ nhớ đệm | Bộ nhớ đệm L2 512 KB | Bộ nhớ đệm L2 512 KB hoặc bộ nhớ đệm L2 256 KB | Bộ nhớ đệm L2 256 KB | |
| Bộ nhớ | Hai khe cắm PC100 SDRAM 64 MB đến 512 MB |
Hai khe cắm PC100 SDRAM 64 MB đến 1 GB |
Hai khe cắm PC100 SDRAM 128 MB đến 1 GB | |
| Đồ họa | ATI Rage 128 VR với SDRAM 8 MB[49] | ATI Rage 128 Pro với SDRAM 8 MB[49] | ATI Rage 128 Pro với SDRAM 8 MB ATI Rage 128 Ultra với SDRAM 16 MB |
ATI Rage 128 Ultra với SDRAM 16 MB |
| Ổ đĩa cứng | 6 GB, 10 GB hoặc 13 GB | 7 GB, 10 GB, 20 GB hoặc 30 GB | 10 GB, 20 GB hoặc 40 GB | 20 GB, 40 GB hoặc 60 GB |
| Ổ đĩa quang Nuốt đĩa |
CD-ROM, DVD-ROM hoặc CD-RW | |||
| Mạng | Ethernet 10/100 BASE-T Modem 56k V.90 Tương thích AirPort (ngoại trừ mẫu 350 MHz mùa hè năm 2000)[111] | |||
| Thiết bị ngoại vi | 2 cổng USB 2 cổng FireWire (ngoại trừ các mẫu 350 MHz) Giắc cắm đầu vào/đầu ra âm thanh Loa âm thanh nổi tích hợp |
2 cổng USB 2 cổng FireWire Giắc cắm đầu vào/đầu ra âm thanh Loa âm thanh nổi tích hợp | ||
| Video out (Mirroring) |
VGA | |||
| Hệ điều hành gốc | Mac OS 8.6 | Mac OS 9.0.4 | Mac OS 9.1 | Mac OS 9.1 và Mac OS X 10.0.4[53] |
| Hệ điều hành tối đa | Mac OS X 10.3 Panther (tất cả các mẫu) nếu lắp đặt RAM 128 MB, nếu không thì Mac OS 9[106] Mac OS X 10.4 Tiger (các mẫu FireWire) nếu lắp đặt RAM 256 MB[112] |
Mac OS X 10.4 Tiger nếu lắp đặt RAM 256 MB, nếu không thì Mac OS X 10.3 Panther nếu lắp đặt RAM 128 MB hoặc Mac OS 9[112] | Mac OS X 10.4 Tiger nếu lắp đặt RAM 256 MB, nếu không thì Mac OS X 10.3 Panther | |
| Trọng lượng | 34,7 lb (15,7 kg) | |||
| Kích thước | 15,0 × 15,0 × 17,1 inch (38,1 × 38,1 × 43,5 cm) | |||
Tham khảo
[sửa | sửa mã nguồn]- ↑ Gruman (1997), tr. 32.
- ↑ Gore & Epler (1998), tr. 17A.
- ↑ Kawamoto, Dawn (ngày 20 tháng 12 năm 1996). "Apple Acquires Next, Jobs" [Apple mua lại Next, Jobs]. CNET (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 6 năm 2022. Truy cập ngày 22 tháng 11 năm 2022.
- ↑ Isaacson (2013), tr. 213–214.
- 1 2 3 Snell, Jason (ngày 28 tháng 12 năm 2020). "20 Macs for 2020: #1 – iMac G3" [20 máy Mac cho năm 2020: #1 – iMac G3]. Six Colors (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 1 năm 2023. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2022.
- ↑ Lohr, Steve (ngày 10 tháng 7 năm 1997). "Apple Computer Ousts Chief in Response to Poor Results" [Apple Computer sa thải Giám đốc để phản hồi kết quả tồi tệ]. The New York Times (bằng tiếng Anh). ISSN 0362-4331. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 1 năm 2023. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2022.
- ↑ Kahney (2013), tr. 101.
- ↑ Kahney (2013), tr. 92–94.
- ↑ Kahney (2013), tr. 99.
- ↑ Kahney (2013), tr. 101, 105.
- ↑ Kahney (2013), tr. 113.
- ↑ Swartz, Jon (ngày 14 tháng 1 năm 1999). "Apple Profit Up — iMac Sales Cited" [Lợi nhuận của Apple tăng — Nhờ doanh số bán iMac]. San Francisco Chronicle (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2022.
- ↑ Kahney (2013), tr. 103.
- ↑ Kahney (2013), tr. 114.
- ↑ Kahney (2013), tr. 115.
- ↑ Kahney (2013), tr. 118.
- ↑ Kahney (2013), tr. 116–117, 122.
- ↑ Kahney (2013), tr. 116–117.
- ↑ Kahney (2013), tr. 123.
- ↑ Edwards, Benj (ngày 15 tháng 11 năm 2012). "The Unexplored History of Translucent Apple Design" [Lịch sử chưa từng được khám phá của thiết kế Apple trong mờ]. Macworld (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 22 tháng 11 năm 2022.
- ↑ Kahney (2013), tr. 123–124.
- ↑ Kahney (2013), tr. 117–120.
- ↑ Isaacson (2013), tr. 349.
- ↑ Kahney (2013), tr. 122.
- ↑ Designed by apple in California [Được thiết kế bởi Apple ở California] (bằng tiếng Anh). Cupertino, CA: Apple, Inc. 2016. ISBN 978-0-9975138-0-6.
- 1 2 3 Kahney (2013), tr. 124.
- ↑ Gore & Epler (1998), tr. 17B–17D.
- ↑ Isaacson (2013), tr. 350.
- 1 2 Kahney (2013), tr. 126.
- 1 2 Kahney (2013), tr. 125.
- ↑ Gore & Epler (1998), tr. 17B.
- 1 2 Gore & Epler (1998), tr. 17C.
- ↑ Kahney (2013), tr. 125–126.
- ↑ De Nike, Kristina (ngày 31 tháng 3 năm 1999). "iMac Boards Use Forbidden Interface" [Bo mạch iMac sử dụng giao diện bị cấm]. Macworld (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2019.
- ↑ Isaacson (2013), tr. 351–352.
- ↑ Segall (2013), tr. 104–105.
- ↑ Segall (2013), tr. 106–109.
- ↑ Segall (2013), tr. 109.
- ↑ Segall (2013), tr. 109–110.
- ↑ Isaacson (2013), tr. 354–355.
- 1 2 3 4 5 Edwards, Benj (ngày 15 tháng 8 năm 2019). "8 Ways the iMac Changed Computing" [8 cách iMac thay đổi ngành điện toán]. Macworld (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2022.
- ↑ Press & Cooper (2017), tr. 29.
- ↑ Levy, Steven (ngày 17 tháng 8 năm 1998). "Say Hello to iMac" [Gửi lời chào tới iMac]. Newsweek (bằng tiếng Anh). Quyển 132 số 7. tr. 12.
- ↑ Kahney (2019), tr. 70.
- ↑ Lewis, Peter (ngày 5 tháng 11 năm 1998). "State of the Art; Microsoft's Latest: a Telephone" [Tình trạng nghệ thuật: Sản phẩm mới nhất của Microsoft là một chiếc điện thoại]. The New York Times (bằng tiếng Anh).
- 1 2 3 4 Simmons & Reynolds (1999), tr. 23.
- 1 2 Breitzer (2000), tr. 70–74.
- ↑ Breitzer (2000), tr. 70.
- 1 2 3 Capps (1999), tr. 45–47.
- ↑ Michaels & Snell (2000), tr. 27.
- ↑ Honan (2001), tr. 68.
- ↑ Honan (2001), tr. 69.
- 1 2 3 Breen (2001), tr. 33–34.
- ↑ Michaels (2002), tr. 32.
- ↑ Hackett, Stephen (ngày 7 tháng 7 năm 2016). "Summer 2001: The Final iMac G3s" [Mùa hè 2001: Những chiếc iMac G3 cuối cùng]. 512 Pixels (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2022.
- 1 2 Kahney (2013), tr. 134.
- ↑ Barker, Garry (ngày 23 tháng 12 năm 1998). "Apple Rides the iMac Back into Fashion" [Apple cưỡi iMac trở lại với thời trang]. The Age (bằng tiếng Anh).
- ↑ Swartz, Jon (ngày 14 tháng 1 năm 1999). "Apple Profit Up — iMac Sales Cited" [Lợi nhuận của Apple tăng (Nhờ doanh số bán iMac)]. San Francisco Chronicle (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2022.
- ↑ Edwards, Benj (ngày 15 tháng 8 năm 2019). "8 Ways the iMac Changed Computing" [8 cách iMac thay đổi ngành điện toán]. Macworld (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2022.
- ↑ Levy, Steven (ngày 30 tháng 7 năm 2000). "Thinking Inside the Box" [Tư duy bên trong chiếc hộp]. Newsweek (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2022.
- ↑ Gallagher, William (ngày 19 tháng 4 năm 2020). "How Apple went from bust to five million colorful iMacs sold" [Cách Apple đi từ phá sản đến bán được 5 triệu máy iMac đầy màu sắc]. Apple Insider (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2022.
- ↑ Menn, Joseph (ngày 8 tháng 1 năm 2002). "Apple Unveils Its Redesigned iMac; Computers: The company hopes the desktop's innovative design will help shore up its sagging market share" [Apple ra mắt iMac thiết kế lại (Máy tính: Công ty hy vọng thiết kế sáng tạo của máy tính để bàn sẽ giúp vực dậy thị phần đang sụt giảm của mình)]. Los Angeles Times (bằng tiếng Anh). tr. C2.
- 1 2 3 Snell, Jason (ngày 28 tháng 12 năm 2020). "20 Macs for 2020: #1 – iMac G3" [20 máy Mac cho năm 2020: #1 – iMac G3]. Six Colors (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 1 năm 2023. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2022.
- 1 2 Kahney (2013), tr. 133.
- ↑ Gore (1998a), tr. 17.
- 1 2 Kantrowitz, Barbara (ngày 28 tháng 9 năm 1998). "At Last, a Really Big Mac" [Cuối cùng, một chiếc Mac thực sự lớn]. Newsweek (bằng tiếng Anh). Quyển 132 số 13. tr. 85.
- 1 2 Einstein, David (ngày 12 tháng 8 năm 1998). "Apple's iMac — the New VW Beetle of Computers" [iMac của Apple (chiếc VW Beetle mới của giới máy tính)]. San Francisco Chronicle (bằng tiếng Anh). tr. B2.
- 1 2 Dotto, Steve (ngày 13 tháng 8 năm 1998). "New iMac Important Development in Apple's Recovery" [iMac mới là bước phát triển quan trọng trong quá trình phục hồi của Apple]. The Vancouver Sun (bằng tiếng Anh). tr. E1.
- 1 2 Evarts, Eric (ngày 21 tháng 12 năm 1998). "Tech Review: Apple's iMac; Triumph of Form, Substance" [Đánh giá công nghệ: iMac của Apple (Chiến thắng của hình thức và bản chất)]. Christian Science Monitor (bằng tiếng Anh). Quyển 91 số 18. tr. 16.
- ↑ Makris, Steve (ngày 13 tháng 8 năm 1998). "Apple's Imac Ahead of Its Time" [Imac của Apple đi trước thời đại]. Calgary Herald (bằng tiếng Anh). tr. E14.
- 1 2 Morse, Rob (ngày 9 tháng 8 năm 1998). "Iwant One - Right Now" [Tôi muốn một cái (Ngay bây giờ)]. San Francisco Examiner (bằng tiếng Anh). tr. B1.
- ↑ Lefevre, Greg (ngày 14 tháng 8 năm 1998). "The iMac's Here, but Where's Apple?" [iMac ở đây, nhưng Apple ở đâu?]. CNN (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2022.
- 1 2 Gore (1998b), tr. 32.
- ↑ Được quy cho nhiều nguồn:
- Kantrowitz, Barbara (ngày 28 tháng 9 năm 1998). "At Last, a Really Big Mac" [Cuối cùng, một chiếc Mac thực sự lớn]. Newsweek (bằng tiếng Anh). Quyển 132 số 13. tr. 85.
- Dotto, Steve (ngày 13 tháng 8 năm 1998). "New iMac Important Development in Apple's Recovery" [iMac mới là bước phát triển quan trọng trong quá trình phục hồi của Apple]. The Vancouver Sun (bằng tiếng Anh). tr. E1.
- Lefevre, Greg (ngày 14 tháng 8 năm 1998). "The iMac's Here, but Where's Apple?" [iMac ở đây, nhưng Apple ở đâu?]. CNN (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2022.
- Bethoney, Herb (ngày 31 tháng 8 năm 1998). "iMac Fills Replacement Bill" [iMac đáp ứng nhu cầu thay thế]. PC Week (bằng tiếng Anh). tr. 39.
- ↑ Silvius (1998), tr. 75–76.
- ↑ Buchanan, Charles (ngày 28 tháng 11 năm 1998). "For a Ready-to-use, Non-upgradable Machine, the iMac Is It" [Đối với một cỗ máy có thể sử dụng ngay lập tức và không thể nâng cấp, iMac chính là sự lựa chọn]. The Facts (bằng tiếng Anh). Clute, Texas. tr. 15.
- ↑ Được quy cho nhiều nguồn:
- Einstein, David (ngày 12 tháng 8 năm 1998). "Apple's iMac — the New VW Beetle of Computers" [iMac của Apple (chiếc VW Beetle mới của giới máy tính)]. San Francisco Chronicle (bằng tiếng Anh). tr. B2.
- Evarts, Eric (ngày 21 tháng 12 năm 1998). "Tech Review: Apple's iMac; Triumph of Form, Substance" [Đánh giá công nghệ: iMac của Apple (Chiến thắng của hình thức và bản chất)]. Christian Science Monitor (bằng tiếng Anh). Quyển 91 số 18. tr. 16.
- Bethoney, Herb (ngày 31 tháng 8 năm 1998). "iMac Fills Replacement Bill" [iMac đáp ứng nhu cầu thay thế]. PC Week (bằng tiếng Anh). tr. 39.
- Breeden, John (ngày 17 tháng 12 năm 1998). "Skin-deep Beauty; the iMac's Performance Doesn't Live Up to Its Snappy Appearance" [Vẻ đẹp ngoài da (Hiệu suất của iMac không đáp ứng được vẻ ngoài bắt mắt của nó)]. The Washington Post (bằng tiếng Anh). tr. B5.
- ↑ Bray, Hiawatha (ngày 17 tháng 5 năm 1998). "iMac Is Too Odd to Succeed" [iMac quá kỳ quặc để có thể thành công]. Lakeland Ledger (bằng tiếng Anh). tr. E5.
- ↑ Gore (1998b), tr. 33.
- 1 2 Breeden, John (ngày 17 tháng 12 năm 1998). "Skin-Deep Beauty; the iMac's Performance Doesn't Live Up to Its Snappy Appearance" [Vẻ đẹp ngoài da (Hiệu suất của iMac không đáp ứng được vẻ ngoài bắt mắt của nó)]. The Washington Post (bằng tiếng Anh). tr. B5.
- ↑ Staff (ngày 31 tháng 8 năm 1998). "iMac Review" [Đánh giá iMac]. Santa Cruz Sentinel (bằng tiếng Anh). tr. A7 – A8.
- ↑ Breitzer (2000), tr. 76.
- ↑ Rutherford, Sam (ngày 15 tháng 8 năm 2018). "Don't Get Nostalgic for This 20th Anniversary: Apple's iMac G3 Was an Awful Computer" [Đừng hoài niệm về Lễ kỷ niệm 20 năm này: iMac G3 của Apple là một chiếc máy tính khủng khiếp]. Gizmodo (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2022.
- ↑ Honan & Schmeiser (2000), tr. 28.
- ↑ Regan, Tom (ngày 18 tháng 11 năm 1999). "iMac's Innovation Streaks Ahead" [Sự đổi mới của iMac bứt phá dẫn đầu]. Christian Science Monitor (bằng tiếng Anh). Quyển 91 số 247. tr. 18.
- ↑ Wanders, Marcel (2005). The International Design Yearbook 2005 [Niên giám Thiết kế Quốc tế 2005] (bằng tiếng Anh). Laurence King Publishing. tr. 232. ISBN 978-1-8566-9435-3.
- ↑ Được quy cho nhiều nguồn:
- Henry Ford: Ive, Jony (k. 1999). iMac G3 [iMac G3] (artifact; 14in × 14.75in × 16.25in) (bằng tiếng Anh). The Henry Ford. 99.162.1. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 12 năm 2022. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2022.
- Victoria and Albert: Ive, Jony (k. 1999). iMac G3 [iMac G3] (artifact; 38 cm × 37.5 cm × 44 cm) (bằng tiếng Anh). Victoria and Albert Museum. 158296. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 1 năm 2024. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2022.
- Powerhouse Museum: Ive, Jony (k. 1999). iMac G3 'ruby red' computer [máy tính iMac G3 'đỏ ruby'] (artifact; 14 in × 14.75 in × 16.25 in) (bằng tiếng Anh). Powerhouse Museum. 2021/100/1. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 1 năm 2024. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2022.
- MoMA: Apple Industrial Design Group (k. 1998). iMac desktop computer [máy tính để bàn iMac] (artifact; 15 in × 15 in × 17 in) (bằng tiếng Anh). Museum of Modern Art. 1396.2001. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2022.; Atkinson 2020, tr. 147–149.
- ↑ Thomas, Susan (ngày 12 tháng 7 năm 1999). "Thinking Outside the Box" [Suy nghĩ vượt ra ngoài khuôn khổ]. U.S. News & World Report (bằng tiếng Anh). Quyển 127 số 2. tr. 61.
- 1 2 Atkinson (2020), tr. 147–149.
- ↑ Feeney, Mary (ngày 10 tháng 12 năm 1998). "The Appeal of the Round: The Two Biggest Technological Design Successes of the Year, the Apple iMac Computer and the Renascent Volkswagen Beetle, Reflect on a Society Increasingly Choosing Curves over Angles" [Sức hấp dẫn của hình tròn: Hai thành công lớn nhất về thiết kế công nghệ trong năm (máy tính Apple iMac và sự hồi sinh của Volkswagen Beetle) phản ánh một xã hội ngày càng ưa chuộng các đường cong hơn là góc cạnh]. Vancouver Sun (bằng tiếng Anh). tr. A19.
- ↑ Kanellos, Michael (ngày 19 tháng 8 năm 1999). "Apple Sues Emachines for iMac Look-alike" [Apple khởi kiện Emachines vì sản phẩm sao chép iMac]. CNET (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2014.
- 1 2 3 Kahney (2013), tr. 135.
- ↑ Spooner, John (ngày 15 tháng 12 năm 1999). "Compaq Hopes to Follow the iMac" [Compaq hy vọng sẽ tiếp bước iMac]. ZDNet (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2022.
- ↑ Takahashi, Dean (ngày 4 tháng 11 năm 1998). "Intel Is Pushing for Simpler Personal Computers" [Intel đang nỗ lực thúc đẩy các máy tính cá nhân đơn giản hơn]. The Wall Street Journal (bằng tiếng Anh). tr. B6.
- ↑ Kahney (2013), tr. 141.
- ↑ Segall (2013), tr. 113.
- ↑ Pogue (1999), tr. 62–64.
- ↑ Michaels & Cellini (2002), tr. 16.
- ↑ Ackerman, Dan (ngày 21 tháng 4 năm 2021). "Apple's Colorful New iMac Looks Back to Go Forward" [iMac mới đầy màu sắc của Apple nhìn lại quá khứ để tiến về phía trước]. CNET (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2021.
- ↑ Eadicicco, Lisa (ngày 21 tháng 4 năm 2021). "Apple Just Announced a Redesigned iMac in 7 Colors, Marking a Revival of Its Iconic Colorful Computers" [Apple vừa công bố iMac thiết kế lại với 7 màu sắc (đánh dấu sự hồi sinh của những chiếc máy tính đầy màu sắc mang tính biểu tượng của hãng)]. Business Insider (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2021.
- ↑ Lopez, Napier (ngày 21 tháng 4 năm 2021). "The Slim New iMac Is Powered By M1 and Comes in 7 Gorgeous Colors" [iMac mới mỏng manh được trang bị sức mạnh từ M1 và có 7 màu sắc tuyệt đẹp]. The Next Web (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2021.
- ↑ "iMac – Technical Specifications" [iMac – Thông số kỹ thuật] (bằng tiếng Anh). Apple, Inc. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2020.
- ↑ "iMac (266 mhz) – Technical Specifications" [iMac (266 mhz) – Thông số kỹ thuật] (bằng tiếng Anh). Apple, Inc. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2022.
- ↑ "iMac (333 mhz) – Technical Specifications" [iMac (333 mhz) – Thông số kỹ thuật] (bằng tiếng Anh). Apple, Inc. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2022.
- ↑ Bates (1999), tr. 47.
- 1 2 "Apple Announces Mac OS X "Panther"" [Apple Công bố Mac OS X "Panther"]. Apple Newsroom (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2025.
- ↑ "iMac (slot Loading) – Technical Specifications" [iMac (nuốt đĩa) – Thông số kỹ thuật] (bằng tiếng Anh). Apple, Inc. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2022.
- ↑ "iMac (summer 2000) – Technical Specifications" [iMac (mùa hè năm 2000) – Thông số kỹ thuật] (bằng tiếng Anh). Apple, Inc. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2022.
- ↑ "iMac (early 2001) – Technical Specifications" [iMac (đầu năm 2001) – Thông số kỹ thuật] (bằng tiếng Anh). Apple, Inc. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2022.
- ↑ "iMac (summer 2001) – Technical Specifications" [iMac (mùa hè năm 2001) – Thông số kỹ thuật] (bằng tiếng Anh). Apple, Inc. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2022.
- ↑ "Apple Introduces New iMacs in Stunning New Colors - Apple" [Apple Giới thiệu dòng iMac Mới với Màu sắc Mới Tuyệt đẹp - Apple]. Apple.com (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 11 năm 2024. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2025.
- 1 2 "Apple Announces Mac OS X Server "Tiger"" [Apple Công bố Mac OS X Server "Tiger"]. Apple Newsroom (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2025.
Nguồn
[sửa | sửa mã nguồn]- Atkinson, Paul (2020). "Apple iMac G3". Trong Lees-Maffei, Grace (biên tập). Iconic designs: 50 stories about 50 things [Những thiết kế mang tính biểu tượng: 50 câu chuyện về 50 đồ vật] (bằng tiếng Anh). Bloomsbury Publishing. ISBN 978-0-8578-5353-0.
- Bates, Allyson (tháng 7 năm 1999). "iMac 333MHz" [iMac 333MHz]. Macworld (bằng tiếng Anh). Reviews. tr. 47. ISSN 0741-8647.
- Breen, Christopher (tháng 12 năm 2001). "iMac and iMac Special Edition" [iMac và iMac Special Edition]. Macworld (bằng tiếng Anh). Reviews. tr. 33–34. ISSN 0741-8647.
- Breitzer, Frith (tháng 1 năm 2000). "The iMac is back" [iMac đã trở lại]. Macworld (bằng tiếng Anh). tr. 70–77. ISSN 0741-8647.
- Capps, Robert (tháng 12 năm 1999). "Eeny meeny miny iMac" [Eeny meeny miny iMac]. MacAddict (bằng tiếng Anh). Số 40. ISSN 1088-548X.
- Gore, Andrew (ngày 30 tháng 6 năm 1998). "Defying gravity ... again" [Thách thức trọng lực ... một lần nữa]. Macworld (bằng tiếng Anh). The Vision Thing. tr. 17. ISSN 0741-8647.
- Gore, Andrew (ngày 31 tháng 10 năm 1998). "Reviews" [Đánh giá]. Macworld (bằng tiếng Anh). iMac: Groundbreaking consumer offering lives up to its hype. tr. 32–33. ISSN 0741-8647.
- Gore, Andrew; Epler, Anita (tháng 7 năm 1998). "The iMac cometh" [iMac xuất hiện]. Macworld (bằng tiếng Anh). tr. 17A – 17D. ISSN 0741-8647.
- Gruman, Galen (tháng 11 năm 1997). "Why Apple pulled the plug" [Tại sao Apple lại rút phích cắm]. Macworld (bằng tiếng Anh). tr. 31–32, 36. ISSN 0741-8647.
- Honan, Mathew (tháng 6 năm 2001). "iMac and iMac Special Edition" [iMac và iMac Special Edition]. Macworld (bằng tiếng Anh). Reviews. tr. 68–69. ISSN 0741-8647.
- Honan, Mathew; Schmeiser, Lisa (tháng 10 năm 2000). "The mouse that roared" [Chú chuột gầm gừ]. Macworld (bằng tiếng Anh). Macworld Expo Buzz Extra. tr. 28. ISSN 0741-8647.
- Isaacson, Walter (2013). Steve Jobs [Steve Jobs] (bằng tiếng Anh). Simon & Schuster. ISBN 978-1-4516-4854-6.
- Kahney, Leander (2013). Jony Ive: the genius behind Apple's greatest products [Jony Ive: thiên tài đằng sau những sản phẩm vĩ đại nhất của Apple] (bằng tiếng Anh). Penguin Group. ISBN 978-1-5918-4617-8.
- Kahney, Leander (2019). Tim Cook: the genius who took Apple to the next level [Tim Cook: thiên tài đưa Apple lên tầm cao mới] (bằng tiếng Anh). Penguin Group. ISBN 978-0-241-34820-8.
- Michaels, Philip; Snell, Jason (tháng 10 năm 2000). "iMac of a different color" [iMac mang một màu sắc khác]. Macworld (bằng tiếng Anh). Macworld Expo Buzz Extra. tr. 27. ISSN 0741-8647.
- Michaels, Philip (tháng 3 năm 2002). "The iMac: flat is where it's at" [iMac: màn hình phẳng mới là chân ái]. Macworld (bằng tiếng Anh). Special Report. tr. 29–32. ISSN 0741-8647.
- Michaels, Philip; Cellini, Adelia (tháng 7 năm 2002). "Does the eMac make the grade?" [Liệu eMac có đạt tiêu chuẩn?]. Macworld (bằng tiếng Anh). Số 207. Mac Beat. ISSN 0741-8647.
- Pogue, David (tháng 10 năm 1999). "Meet the iBook" [Gặp gỡ iBook]. Macworld (bằng tiếng Anh). Features. tr. 62–67. ISSN 0741-8647.
- Press, Mike; Cooper, Rachel (2017). "Design and consumer culture". The design experience: the role of design and designers in the twenty-first century [Kinh nghiệm thiết kế: vai trò của thiết kế và các nhà thiết kế trong thế kỷ 21] (bằng tiếng Anh). Routledge. tr. 11–34. ISBN 978-1-3518-9170-7.
- Segall, Ken (2013). Insanely simple: the obsession that drives Apple's success [Cực kỳ đơn giản: nỗi ám ảnh thúc đẩy thành công của Apple] (bằng tiếng Anh) (ấn bản thứ 2). The Penguin Group. ISBN 978-1-5918-4621-5.
- Silvius, Susan (tháng 12 năm 1998). "iMac vs. Pentium: no points for good looks" [iMac với Pentium: ngoại hình đẹp không phải là tất cả]. PC World (bằng tiếng Anh). ISSN 0737-8939.
- Simmons, Mark; Reynolds, David (tháng 3 năm 1999). "The Mac of the Future" [Máy Mac của Tương lai]. MacAddict (bằng tiếng Anh). Số 31. ISSN 1088-548X.
Xem thêm
[sửa | sửa mã nguồn]Liên kết ngoài
[sửa | sửa mã nguồn]
Tư liệu liên quan tới IMac G3 tại Wikimedia Commons